do gia dung

en vi

Thứ năm, 02/10/2014
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 492, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-4)3.557.9568*  Fax: (+84-4)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123
Đất được giao để thực hiện dự án đầu tư, đã quá một năm nhưng dự án vẫn chưa tiến hành do gặp khó khăn về mặt tài chính. Vậy đất đó có bị thu hồi không?Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Công ty Cổ phần Sao Mai  được UBND tỉnh M giao đất để đầu tư xây dựng khu công nghiệp. Nhưng đã hơn 1 năm nay kể từ ngày nhận bàn giao đất trên thực địa, dự án vẫn chưa được tiến hành do gặp khó khăn về tài chính. Ủy ban nhân dân tỉnh M đã ra quyết định thu hồi diện tích đất đã giao cho Công ty . Vậy, quyết định thu hồi đất trên của Ủy ban nhân dân tỉnh M có đúng quy định của pháp luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 thì Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

3. Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;

4. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

6. Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;

b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7. Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

8. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

9. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;

10. Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;

11. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;

12. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.

Trong trường hợp trên, Công ty Sao Mai đã được giao đất để xây dựng khu công nghiệp nhưng đã không sử dụng đất trong thời hạn hơn 12 tháng liền kể từ ngày nhận bàn giao đất mà không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, việc thu hồi quyền sử dụng đất trên của UBND tỉnh M trong trường hợp này là hoàn toàn đúng theo quy định tại điểm 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003.

Việc ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng được pháp luật quy định như thế nào?

Gia đình anh Nguyễn Văn P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó chỉ ghi họ, tên anh P với lý do vợ anh P là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Vợ chồng anh P cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình anh P cần phải ghi họ, tên của cả hai vợ chồng anh. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?


Trả lời:

Điều 43 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định về việc ghi tên người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

1. Đối với tổ chức, tổ chức nước ngoài sử dụng đất thì ghi tên tổ chức theo quyết định thành lập, giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư.

Đối với đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh thì ghi tên đơn vị sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 83 của Nghị định này.

2. Đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất thì ghi tên cơ sở tôn giáo đó.

3. Đối với hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau:

a) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

b) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì ghi họ, tên chủ hộ.

c) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất mà vợ hoặc chồng là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại Điều 121 Luật Đất đai thì chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng là cá nhân trong nước.

Đối với hộ gia đình sử dụng đất mà vợ hoặc chồng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại Điều 121 của Luật Đất đai thì việc ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

4. Đối với cộng đồng dân cư sử dụng đất thì ghi tên cộng đồng dân cư đó.

5. Đối với cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng đất thì ghi họ, tên cá nhân đó.

6. Đối với trường hợp nhiều người sử dụng đất có quyền sử dụng chung thửa đất thì ghi tên tất cả những người sử dụng đất đó, trừ trường hợp nhà chung cư.

Đối với nhà chung cư thì việc ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Nghị định này.

7. Trường hợp người sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà việc ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phù hợp với quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này, nếu có nhu cầu thì làm thủ tục chỉnh lý trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

Điều 121 Luật Đất đai (sửa đổi năm 2009) quy định về quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như sau:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này;

b) Chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở  tại Việt Nam để ở; tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật này. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;

c) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;

d) Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt Nam;

đ) Cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng.”

Điều 126 Luật nhà ở (sửa đổi 2009) quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Như vậy, trong trường hợp trên, nếu vợ anh P là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở  thì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình anh P chỉ ghi họ, tên anh P. Nếu vợ anh P thuộc các trường hợp quy định tại Điều 126 của Luật Nhà ở thì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình anh P ghi cả họ, tên anh P và họ, tên vợ anh P.

Khi nào thì đất đã giao để thực hiện dự án đầu tư bị thu hồi?

Công ty Cổ phần Sao Mai  được UBND tỉnh M giao đất để đầu tư xây dựng khu công nghiệp. Nhưng đã hơn 1 năm nay kể từ ngày nhận bàn giao đất trên thực địa, dự án vẫn chưa được tiến hành do gặp khó khăn về tài chính. Ủy ban nhân dân tỉnh M đã ra quyết định thu hồi diện tích đất đã giao cho Công ty . Vậy, quyết định thu hồi đất trên của Ủy ban nhân dân tỉnh M có đúng quy định của pháp luật không?


Trả lời:

Theo quy định tại Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 thì Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

3. Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;

4. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

6. Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;

b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7. Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

8. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

9. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;

10. Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;

11. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;

12. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.

Trong trường hợp trên, Công ty Sao Mai đã được giao đất để xây dựng khu công nghiệp nhưng đã không sử dụng đất trong thời hạn hơn 12 tháng liền kể từ ngày nhận bàn giao đất mà không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, việc thu hồi quyền sử dụng đất trên của UBND tỉnh M trong trường hợp này là hoàn toàn đúng theo quy định tại điểm 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003.

Tôi có một mảnh đất, muốn đem thế chấp vay vốn Ngân hàng nhưng bị Văn phòng công chứng từ chối với lý do thiếu chữ ký của các thành viên khác trong gia đình. Việc từ chối của VPCC là đúng hay sai?Tôi phải làm thế nào để có thể thế chấp được QSD đất đó?

Năm 1989 tôi mua 1 mảnh đất thổ cư có diện tích là 300m2, tôi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lúc đó tôi chưa lập gia đình). Đến năm 2004, do có chủ trương cấp lại giấy mới nên tôi đổi lại Giấy chứng nhận theo mẫu mới. Năm 2011 tôi có nhu cầu vay vốn và đem mảnh đất này đi thế chấp cho ngân hàng, khi ngân hàng làm xong thủ tục tôi đem đi công chứng hợp đồng thế chấp thì Phòng công chứng nói không công chứng được, lý do là đất cấp cho hộ gia đình chứ không phải cấp cho riêng tôi và yêu cầu tôi phải có tất cả những người có tên trong hộ khẩu ủy quyền cho tôi thì mới công chứng được. Tôi trình bày là đất này tôi mua lúc chưa lập gia đình, tôi đưa cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ nhưng họ cũng không chịu. Trong hộ khẩu gia đình tôi có con nhỏ mới 10 tuổi, có 2 cháu nhập nhờ để đi học thì làm sao làm giấy ủy quyền được. Tôi phải làm thế nào mới thế chấp được mảnh đất này để vay vốn làm ăn? Xin tư vấn giùm tôi, chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Khoản 2 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”. Như vậy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật.

Việc Phòng công chứng từ chối công chứng hợp đồng thế chấp của bạn có thể do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn có ghi nội dung cấp cho hộ gia đình. Căn cứ theo nội dung đó, việc từ chối công chứng là có cơ sở.

Theo như bạn trình bày thì mảnh đất này có nguồn gốc từ việc nhận chuyển nhượng từ năm 1989 và bạn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, quyền sử dụng đất này thuộc sở hữu của cá nhân, không phải quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn lại ghi là cấp cho hộ gia đình. Nội dung này không phù hợp với nguồn gốc sử dụng đất. Có thể trong quá trình cấp đổi Giấy chứng nhận đã có sai sót về nội dung này. Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình, bạn nên tới Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND cấp huyện nơi có đất để thực hiện thủ tục đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tôi có em gái lấy chồng người Singapore, hiện đang sinh sống làm ăn ở Singapore. Em tôi còn quốc tịch Việt Nam, còn CMND và chưa cắt hộ khẩu. Như vậy em tôi có được mua đất ở Việt Nam không, nếu đuợc thì thủ tục như thế nào?

Trả lời:                      

Theo quy định tại Điều 121 Luật Đất đai năm 2003, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai, có hiệu lực từ ngày 01/09/2009 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên và thuộc một trong các đối tượng sau đây:

- Người có quốc tịch Việt Nam;

- Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

Em gái bạn có quốc tịch Việt Nam như vậy thuộc đối tượng có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng nhà ở tại Việt Nam) thông qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các khu vực được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền theo quy định của pháp luật về đất đai) để người mua xây dựng nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam. Tuy nhiên phải xuất trình giấy tờ chứng minh là hộ chiếu Việt Nam còn giá trị.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 67 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở thì đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam phải có Sổ tạm trú hoặc giấy tờ xác nhận về việc đăng ký tạm trú tại địa phương do công an phường, xã, thị trấn nơi người đó cư trú cấp.

Đất sử dụng từ năm 1993 đến nay nhưng không thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước thì có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

Năm 1993 tôi mua một mảnh đất, giấy tờ mua bán chỉ là giấy viết tay có chứng nhận của UBND phường. Tôi sử dụng từ đó đến nay nhưng không đóng thuế. Đến nay, tôi ra đóng thuế và làm sổ đỏ cho mảnh đất thì Ủy ban phường nơi đó nói là không được, đất đang thuộc quyền cai quản của phường, không cho tôi làm sổ đỏ. Xin hỏi Uỷ ban phường trả lời như vậy có đúng không? Tôi phải giải quyết như thế nào? Mong nhận được tư vấn!

Trả lời:

Năm 1993, bạn đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có hợp đồng viết tay được UBND cấp xã xác nhận nhưng đến nay vẫn chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, bạn thuộc một trong các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 50 Luật Đất đai, cụ thể:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.”

Theo các quy định trên, nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của nhà nước, có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp của bạn, UBND phường từ chối cấp giấy chứng nhận và trả lời hiện tại đất đang thuộc quyền quản lý của phường. Bạn cần liên hệ với cán bộ địa chính phường để tìm hiểu rõ về nguyên nhân không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có thể diện tích đất của bạn không được cấp giấy chứng nhận do không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở tại địa phương và thuộc diện phải thu hồi theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai:

“Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà không có tranh chấp thì diện tích đất có giấy tờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
(+84-4)3.557.9668
(+84-4)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email
Yahoo tư vấn:
Dao and Brother

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
CGH HOLLAND
KK22

Liên kết website

bg_trai3