en vi

Thứ bảy, 21/09/2019
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123
Cấp Phiếu lý lịch tư pháp thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích

Thưa luật sư, tháng 3/2018 tôi bị Tòa án xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đến nay tôi chấp hành xong hình phạt và muốn xóa án tích để xin phiếu lý lịch tư pháp không ghi án tích đó. Mong Luật sư hướng dẫn thủ tục cần thực hiện.

Luật sư trả lời:

Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Vấn đề của bạn theo quy định của pháp luật Việt Nam như sau:

1. Theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc Chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng:

“Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

…………”

2. Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định đương nhiên được xóa án tích:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích:

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”

3. Theo điểm a khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo.”

4. Theo điểm b khoản 1 Điều 33 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định cơ quan thực hiện cập nhật thông tin lý lịch tư pháp:

Điều 33. Cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xoá án tích:

1. Trường hợp người bị kết án đương nhiên được xoá án tích thì Sở Tư pháp thực hiện việc cập nhật thông tin như sau:

b) Khi xác định người bị kết án có đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích theo quy định của Bộ luật hình sự thì ghi “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.”

5. Theo khoản 1 Điều 41 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định có 02 loại Phiếu lý lịch tư pháp:

Điều 41. Phiếu lý lịch tư pháp

1. Phiếu lý lịch tư pháp gồm có:

a) Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 7 của Luật này;

b) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.”

* Tình trạng án tích:

- Phiếu số 01: Theo điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ tư pháp quy định:

Điều 14. Ghi Phiếu lý lịch tư pháp:

1. Cách ghi mục Tình trạng án tích trong Phiếu lý lịch tư pháp số 1:

a) Đối với người không bị kết án, người đã bị kết án nhưng được xóa án tích, người được đại xá thì ghi “Không có án tích”; trường hợp người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì ghi “Không có án tích trong thời gian cư trú tại Việt Nam”. Các ô, cột trong mục này không ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp.

- Phiếu số 02: Theo điểm b Khoản 12 Điều 1 Thông tư 16/2013/TT-BTP ngày 11/11/2013 của Bộ tư pháp quy định:

“Đối với người đã bị kết án thì chỉ ghi nội dung án tích vào các ô, mục tương ứng trong Phiếu lý lịch tư pháp và ghi đầy đủ án tích đã được xóa, thời điểm được xóa án tích, án tích chưa được xóa.”

Trên đây là quy định của pháp luật, nếu còn vướng mắc cần hỗ trợ bạn vui lòng đến tư vấn tại Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp hoặc qua điện thoại số: 024.3557.9668 – 0945.490.123 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Điều kiện nộp đơn xóa án tích sau khi bị Tòa án bác đơn

Thưa Luật sư, tôi bị Tòa án xử phạt 5 năm tù tội chống phá cơ sở giam giữ. Tôi đã chấp hành xong hình phạt tù và làm đơn xin xóa án tích tại Tòa án nhưng bị bác đơn. Nay tôi làm đơn xin xóa án tích có được không? Kết quả lý lịch sau khi xóa án tích như nào? Cám ơn Luật sư.

Luật sư trả lời:

Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Vấn đề của bạn theo quy định của pháp luật Việt Nam như sau:

1. Theo khoản 3 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định thời gian xin xóa án tích sau khi bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích:

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.”

2. Theo khoản 2 Điều 33 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định cơ quan thực hiện cập nhật thông tin lý lịch tư pháp:

Điều 33. Cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án được xoá án tích:

2. Trường hợp người bị kết án được Toà án quyết định xoá án tích theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự thì Sở Tư pháp ghi “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó.”

Trên đây là quy định của pháp luật, nếu còn vướng mắc cần hỗ trợ bạn vui lòng đến tư vấn tại Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp hoặc qua điện thoại số: 024.3557.9668 – 0945.490.123 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Quy định 19 tội danh thuộc thẩm quyền xóa án tích của Tòa án

Theo quy định của pháp luật những tội danh thuộc thẩm quyền xóa án tích của Tòa án như sau:

1. Theo khoản 1 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

“Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.”

2. Các tội danh thuộc Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bao gồm:

1. Tội phản bội Tổ quốc

2. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

3. Tội gián điệp

4. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ

5. Tội bạo loạn

6. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân

7. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

8. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

9. Tội phá hoại chính sách đoàn kết

10. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

11. Tội phá rối an ninh

12. Tội chống phá cơ sở giam giữ

13. Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân

14. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân

15. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

16. Tội chống loài người

17. Tội phạm chiến tranh

18. Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê

19. Tội làm lính đánh thuê

Trên đây là quy định của pháp luật về thẩm quyền xóa án tích của Tòa án. Nếu có vướng mắc cần hỗ trợ xin vui lòng đến tư vấn tại Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp hoặc qua điện thoại số: 024.3557.9668 – 0945.490.123 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Tư vấn thủ tục xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Thưa Luật sư, tôi bị Tòa án xử phạt 6 năm tù tội phá rối an ninh, tháng 8/2016 tôi chấp hành xong hình phạt và nộp đầy đủ án phí. Gần đây tôi xin Phiếu lý lịch tư pháp có ghi án tích trên, nay tôi muốn xóa án tích cần tới cơ quan nào thực hiện và điều kiện là gì? Cám ơn Luật sư.

Luật sư trả lời:

Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Vấn đề của bạn theo quy định của pháp luật Việt Nam như sau:

1. Theo Điều 118 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội phá rối an ninh thuộc Chương XIII – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia:

“Chương XIII: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Điều 118. Tội phá rối an ninh:

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 112 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.

2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

2. Theo khoản 1 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 369 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan thực hiện xóa án tích:

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.”

Điều 369. Thủ tục xóa án tích:

2. Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.

Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.”

 

3. Theo khoản 2 Điều 71 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn:

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.”

Trên đây là quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu còn vướng mắc cần hỗ trợ bạn vui lòng đến tư vấn tại Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp hoặc qua điện thoại số: 024.3557.9668 – 0945.490.123 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Tư vấn thủ tục đương nhiên được xóa án tích

Xin chào Luật sư, tôi có câu hỏi muốn Luật sư tư vấn. Năm 2015 tôi bị Tòa án xử phạt 3 năm tù tội trộm cắp tài sản, ngày 20/6/2018 đã chấp hành xong hình phạt, nộp đầy đủ án phí và từ đó đến nay không vi phạm pháp luật. Hiện tại tôi muốn xóa án tích, trường hợp của tôi có đủ điều kiện không? cần thực hiện thủ tục tại cơ quan nào?

Luật sư trả lời:

Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Vấn đề của bạn theo quy định của pháp luật Việt Nam như sau:

1. Theo Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội trộm cắp tài sản thuộc Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu.

2. Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định trường hợp đương nhiên được xóa án tích:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích:

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”

 

3. Theo khoản 4 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 5 Điều 2 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định cơ quan thực hiện xóa án tích:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích:

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này."

Điều 2. Giải thích từ ngữ:

5. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp.”

 

4. Theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích:

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.”

Trên đây là quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu còn vướng mắc cần hỗ trợ bạn vui lòng đến tư vấn tại Công ty luật TNHH Đào và Đồng nghiệp hoặc qua điện thoại số: 024.3557.9668 – 0945.490.123 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Tình huống về hành vi đánh bạc trá hình

Tình huống 5: Câu chuyện về đánh bạc trá hình

Hai diễn viên 1 nam, 1 nữ

Hai vợ chồng đang ở trong phòng , vợ lục tủ tìm đồ thì phát hiện ra mất tiền trong két .

Vợ : Ơ anh ơi, sao lại không thấy tiền ở đây nhỉ, Tiền trong két em để ở đây hôm nọ sao bây giờ không thấy đâu nữa ? Anh có cầm tiền đi đâu làm gì không anh ? 

Chồng : ( Giọng lảng lảng đi ) : Tiền em để đâu thì làm sao mà anh biết được. Mà sao cứ động nói đến tiền là em lại hỏi anh thế nhỉ !? Em xem lại đi, chắc lại mua bán cái gì mà không nhớ chứ gì.

Vợ : Không, chắc chắn là em không mua bán gì mà. Tiền em đã để riêng ra để dành mua xe cho con, em nhớ là em để đây mà, chết mất thôi. Đâu rồi không biết nữa....

Chồng: ( Giọng lạ lạ ) : À em ơi, có phải tiền đầu tuần trước em để trong tủ không... Anh quên mất, hôm nọ thằng Hưng phòng anh nó cần tiền lo việc gấp nên anh lấy cho nó vay rồi. Anh quên mất chưa bảo em... Để thư thư vài hôm nữa rồi anh hỏi nó xem khi nào nó trả nhé rồi anh bảo em... 

Vợ : Có thật không đấy, hay là anh lại mang đi đâu, mà sao anh không bảo em...Ấy chết hôm qua em vừa gặp Lan vợ anh Hưng có thấy nó nói gì đâu nhỉ ? Mà lần sau thế anh phải bảo em một câu chứ, làm hỏng hết kế hoạch của em, mà anh Hưng cần tiền làm gì thế anh nhỉ ? Chắc là hai ông lại thậm thụt làm điều gì mờ ám phải không ?

Chồng : Ôi dào, ai mà biết được nó, chắc là có chuyện gì cần nên mới vay gấp thế thôi... Thôi em đừng lo nhé...

Vợ : Em có lo cũng chỉ lo mỗi việc anh ngựa quen đường cũ, anh lao vào chơi bài bạc thôi, cứ cái kiểu chơi bời của anh như năm ngoái thì tiền bao nhiêu cho đủ được, cũng may có vụ vừa rồi bị công an tóm cổ lên phường nên anh mới chừa chứ không thì chết...

Thôi anh đã cho anh Hưng vay thì em yên tâm rồi...

Chồng (ậm ừ, thái độ lo lắng nhưng vẫn là ra vẻ...) : Ừ thì anh đã bảo là em không phải lo mà, nó vay rồi nó sẽ trả, nó không trả được thì anh trả em, được chưa nào..

Vợ : Quay lại ngồi xuống uống nước thì nhìn thấy một cái vali phỉnh poker, mở ra thì hét ầm lên.

Cái gì đây thế này,  poker (xèng) à, anh lại nói dối em nữa đúng không, tiền anh lại đốt hết vào cái đống này chứ gì, em đã nói bao nhiêu lần rồi, cuối cùng tiền anh vẫn mang đi đánh bạc thế này hở giời, ối giời ơi, anh có biết chỗ đấy bao nhiêu tiền không, hết lần này đến lần khác anh vẫn chưa chừa à, anh làm thế này thì thà giết mẹ con em đi còn hơn...

Chồng : Anh xin em, anh chỉ chơi vui thôi mà, em đừng bù lu bù loa lên thế, con cái nghe thấy thì không hay đâu...

Vợ : Anh còn lo đến con cái cơ à, anh còn chưa biết sợ cơ à, tưởng lần trước bị bắt vì chơi cờ bạc anh đã biết sợ rồi, giờ anh mà còn đi đánh bạc nữa thì chính em sẽ đi báo cho anh không làm khổ vợ con nữa.

Chồng : Em vừa vừa phai phải thôi nhé, tiền là của cả 2, anh cũng có quyền được sử dụng chứ.

Vợ : À, thì ra anh nói là của chung nên anh muốn làm gì thì làm phải không ?

Chồng : Thế không đúng à ? Mà anh cũng nói để em biết nhé, em đừng mơ báo công an bắt anh nhé, anh có ngu đâu mà để công an sờ gáy anh lần nữa chứ..

Vợ : Anh lại còn thách đố tôi nữa à...

Chồng : Thì đã sao nào... Nói cho em biết nhé, lần này khác rồi, kể cả em có đi báo, cũng không ai làm được gì. Anh chỉ chơi poker bằng xèng chứ đâu có chơi bài bằng tiền mặt thì làm sao mà công an làm gì được. Công an chẳng có cớ gì mà bắt anh được cả.

Vợ : Trợn tròn mắt ! Thế là thế nào hả ông giời?!

Chị vợ vào trường quay

Câu hỏi 1. Đấy luật sư xem, rõ ràng là anh ấy mang tiền đi đánh bạc, nhưng tiền đã được qui đổi thành chip/ phỉnh, em cũng không biết phải hỏi ai nữa. Luật sư cho em hỏi, chồng em nói chơi cờ bạc mà không có tiền mặt tại nơi chơi như thế thì công an không thể bắt anh ấy thì là đúng hay sai ạ ?

Trả lời :

Theo Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tường Chính Phủ ngày 27/2/2003 về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng dành cho người nước ngoài thì:

Kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng là việc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để tiến hành trò chơi giữa người với máy điện tử sử dụng làm trò chơi có cài sẵn chương trình trả thưởng tự động (sau đây viết tắt là trò chơi có thưởng)

Đồng tiền trong trò chơi bao gồm tiền kim loại, tiền giấy và các loại đồng tiền quy ước (gọi chung là đồng xèng) có mệnh giá nhất định so với đồng tiền Việt Nam.

Cũng theo Quyết định này thì đối tượng được tham gia trò chơi điện tử có thưởng tại các điểm vui chơi chỉ bao gồm người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các đối tượng khác đều bị nghiêm cấm tham gia dưới mọi hình thức.

Từ quy định trên có thể thấy chơi xèng là một trò chơi điện tử có thưởng và chỉ áp dụng đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài các đối tượng khác đều bị nghiêm cấm tham gia dưới mọi hình thức.

Điều 248 Bộ luật hình sự quy định về tôi đánh bạc như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

Theo hướng dẫn tại Nghị Quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 248, 249 Bộ luật hình sự thì: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Như vậy, trò chơi xèng là một trò chơi có phân định thắng thua bằng tiền do đó, nó là một hình thức đánh bạc và pháp luật hiện nay vẫn nghiêm cấm công dân Việt Nam không phải là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được tham gia chơi trò này. Chồng chị thuộc đối tượng bị nghiêm cấm, do đó nếu chồng chị tham gia chơi xèng thì có thể sẽ bị xử lý hình sự về tội này nếu số tiền thu được có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc quy định tại Điều 249 của BLHS, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Câu hỏi 2. Nếu anh ấy mà bị bắt thì người có máy (chủ chứa) sẽ bị xử lý như thế nào ạ ?

Theo quy định tại Điều 249 BLHS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 248, 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi  triệu đồng.

Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây là “với quy mô lớn”:

a) Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

b) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại... để trợ giúp cho việc đánh bạc;

c) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên.

2. Người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.

Như vậy, tùy từng trường hợp mà chủ chứa có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định tại Điều 248 BLHS hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định tại Điều 249 BLHS.

Câu hỏi 3: Theo luật sư thì phải làm thế nào để không con cái kiểu biến tướng để bóc lột nhau, mà thực tế ở đây chỉ có người chơi chịu thiệt này ạ?

Thực tế hiện nay công tác quản lý của công an và chính quyền địa phương với hoạt động đánh bạc trá hình này còn rất lỏng lẻo, các máy xèng mọc nên rất nhiều và có quy mô khác nhau nhưng chưa được nhắc nhở, xử lý kịp thời. Số vụ khởi tố liên quan đến việc đánh bạc thông qua máy xèng còn rất hạn chế; các cơ quan chức năng chưa có phương thức tuyên truyền phổ biến cho người dân thấy được đây là một hoạt động mà pháp luật hiện nay đang cấm khiến cho nhiều người chủ máy xèng cũng như người chơi chưa nhận thức đúng đắn về trò chơi này.

Cơ chế pháp lý về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng hiện nay đang được điều chỉnh bới một số văn bản như Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tường Chính Phủ ngày 27/2/2003 về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng; Quyết định số 91/2005/QĐ-BTC ngày 8/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng; Quyết định 84/2007/QĐ-BTC ngày 17/10/2007 sửa đổi Quyết định số 91/2005/QĐ-BTC.

Tuy nhiên những văn bản trên hiện nay còn nhiều điểm chưa phù hợp và hiện tại Chính Phủ đang xây dựng dự thảo Nghị định về kinh doanh trò chơi có thưởng để điều chỉnh hoạt động này.

Thiết nghĩ song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng thì các cơ quan Nhà nước cần thực hiện một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định hiện hành. Việc quản lý phải đảm bảo ngay từ khâu nhập khẩu các loại máy điện tử này cho đến việc kinh doanh dịch vụ này. Cần phải xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp vi phạm. Ngoài ra cần có biện pháp tuyên truyền để người dân hiểu biết về hoạt động này.

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22
bg_trai3